http://vnmedia.vn/dan-sinh/201805/dai-bieu-khong-dong-tinh-chuyen-hoc-phi-thanh-gia-dich-vu-604400/v3.txt
Đại biểu không đồng tình chuyển 'học phí' thành 'giá dịch vụ'

Đại biểu không đồng tình chuyển "học phí" thành "giá dịch vụ"

12:37' 30/05/2018 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Các đại biểu cho rằng, việc sử dụng khái niệm học phí vừa thể hiện quan điểm coi giáo dục là lĩnh vực đặc thù, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và vừa tránh cách tiếp cận theo hướng thương mại trong giáo dục.

Sáng 30/5, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, trình bày Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (GDĐH).

Ngay sau đó, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Phan Thanh Bình đã trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Ông Phan Thanh Bình
Ông Phan Thanh Bình

 Quy định "Giá dịch vụ" dễ bị tiếp cận theo hướng thương mại hóa trong giáo dục

Ông Phan Thanh Bình cho biết, đa số thành viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng tán thành việc tính đúng, tính đủ chi phí cần thiết cho hoạt động đào tạo theo cơ chế giá dịch vụ. Tuy nhiên, các đại biểu không nhất trí việc thay thuật ngữ học phí bằng giá dịch vụ đào tạo như thể hiện trong Dự thảo Luật.

“Việc sử dụng khái niệm học phí (đã được quy định trong dự thảo Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục) vừa thể hiện quan điểm coi giáo dục là lĩnh vực đặc thù, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế và vừa tránh cách tiếp cận theo hướng thương mại trong giáo dục” - ông Phan Thanh Bình nhấn mạnh.

Quá trình lấy ý kiến cũng cho thấy, nhiều đại biểu tán thành với quy định cho phép cơ sở GDĐH được tự chủ quyết định mức giá dịch vụ đào tạo đối với các dịch vụ không sử dụng ngân sách nhà nước (khoản 2 Điều 65). Tuy nhiên, các đại biểu đề nghị nghiên cứu, quy định rõ nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo cần thiết làm căn cứ để xây dựng khung giá, mức giá cụ thể đối với các khoản thu dịch vụ đào tạo đối với các dịch vụ do Nhà nước đặt hàng và cấp kinh phí thực hiện, trong đó làm rõ phần Nhà nước hỗ trợ và phần phải thu phí thêm.

Báo cáo thẩm tra đề nghị, đi đôi với cơ chế thu dịch vụ cần quy định cơ chế giám sát, công khai, minh bạch trong tài chính đại học để kiểm soát việc thu phí tương xứng với chất lượng dịch vụ đào tạo; quy định chính sách hỗ trợ người học để có thể tiếp cận với GDĐH khi tăng mức học phí.

Về quy định cơ sở GDĐH công lập đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động, Phó Chủ nhiệm Ủy ban cho biết, nhiều ý kiến đề nghị làm rõ quy định: “cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động” quy định tại khoản 2 Điều 66.

“Tự chủ tài chính chỉ là một nội dung trong tự chủ của cơ sở GDĐH chứ không phải là yếu tố quyết định đối với việc thực hiện tự chủ của cơ sở GDĐH. Bởi vậy, cần thiết phải tổng kết một cách toàn diện trước khi luật hóa cơ chế “công lập tự chủ tài chính”; làm rõ sự khác biệt giữa trường đại học công lập tự chủ tài chính hoàn toàn và trường đại học tư thục. Cần làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với hệ thống GDĐH và các cơ sở GDĐH gồm cả loại hình công lập và ngoài công lập” - Báo cáo thẩm tra nêu rõ.

Đối với vấn đề quản lý nhà nước về GDĐH, báo cáo thẩm tra cho rằng, Dự thảo Luật nhìn chung đã có những sửa đổi, bổ sung góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong quản lý nhà nước về GDĐH; giảm dần sự can thiệp trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước đối với các cơ sở GDĐH. Tuy vậy, cần tiếp tục nghiên cứu quy định cụ thể hơn trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước; phân định rõ hơn công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở GDĐH…

Đa số ý kiến cho rằng, mỗi loại trường đại học có một vị trí và nhiệm vụ nhất định. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, vấn đề quan trọng là chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng của cơ sở GDĐH, thực hiện kiểm định và xếp hạng. Đa số ý kiến ủng hộ giao cho Chính phủ, tùy theo yêu cầu của Nhà nước và kết quả kiểm định chất lượng cơ sở GDĐH, định kỳ công bố danh sách các đại học, trường đại học trọng điểm được ưu tiên đầu tư cụ thể theo các nhiệm vụ chiến lược quốc gia và yêu cầu phát triển đất nước.

Về tổ chức và quản lý đào tạo, Khoản 1 Điều 37, Dự thảo Luật quy định: “Cơ sở GDĐH có trách nhiệm tổ chức và quản lý đào tạo theo tích luỹ tín chỉ, niên chế hoặc kết hợp”. Tuy nhiên, tại điểm b khoản 1 Điều 36 lại quy định cứng: “Chương trình đào tạo được xây dựng theo đơn vị tín chỉ”. Các đại biểu đề nghị cân nhắc việc quy định cứng trong Luật về đào tạo theo học chế tín chỉ vì phương pháp đào tạo có thể thay đổi theo thời gian.

Điều 65. Giá dịch vụ đào tạo

1. Dịch vụ đào tạo gồm: dịch vụ đào tạo, dịch vụ tuyển sinh và các khoản thu dịch vụ khác theo quy định của Pháp luật. Mức thu giá dịch vụ đào tạo được xác định theo quy định tại Điều 105 của Luật Giáo dục.

2. Đối với các dịch vụ do Nhà nước đặt hàng và cấp kinh phí thực hiện: Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính quy định khung giá và giá cụ thể đối với các khoản thu dịch vụ đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học công lập; khung giá, giá tối đa và giá cụ thể dịch vụ tuyển sinh.

Đối với các dịch vụ không sử dụng ngân sách nhà nước: Cơ sở giáo dục đại học xây dựng và quyết định mức giá dịch vụ đào tạo theo quy định của pháp luật. Giá dịch vụ đào tạo phải được công bố công khai cho từng năm học, khoá học cùng với thông báo tuyển sinh.”

“Điều 35. Thời gian đào tạo:

1. Thời gian đào tạo theo tín chỉ được xác định trên cơ sở số lượng tín chỉ phải tích lũy quy định cho từng chương trình và trình độ đào tạo. Số lượng tín chỉ cần tích luỹ đối với mỗi trình độ được quy định trong Khung trình độ Quốc gia Việt Nam. Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học quyết định số lượng tín chỉ phải tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Thời gian đào tạo tiêu chuẩn đối với các trình độ của giáo dục đại học được quy định như sau:

a) Đào tạo trình độ đại học được thực hiện tương đương từ ba đến năm năm học tập trung liên tục tùy theo ngành đào tạo đối với người đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Đối với những người tốt nghiệp trình độ trung cấp, cao đẳng, thời gian học tập do cơ sở đào tạo quyết định căn cứ vào kết quả học tập đã tích luỹ được công nhận;

b) Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học tập trung liên tục đối với người đã tốt nghiệp trình độ đại học;

c) Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện từ ba đến bốn năm học tập trung liên tục đối với người đã tốt nghiệp trình độ đại học, thạc sĩ.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định thời gian đào tạo cụ thể đối với mỗi trình độ của giáo dục đại học theo từng lĩnh vực, hình thức tổ chức đào tạo.”

Chương trình đào tạo:

a) Chương trình đào tạo gồm: mục tiêu, khối lượng kiến thức, cấu trúc, chuẩn đầu ra, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá đối với môn học, ngành học, trình độ đào tạo. Chuẩn đầu ra của chương trình giáo dục đại học phải phù hợp với Khung trình độ Quốc gia Việt Nam.

b) Chương trình đào tạo được xây dựng theo đơn vị tín chỉ; bao gồm các loại chương trình định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng; phải đảm bảo yêu cầu liên thông giữa các trình độ, ngành đào tạo; đảm bảo quy định về chuẩn chương trình đào tạo.

c) Cơ sở giáo dục đại học được sử dụng chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về giáo dục đào tạo của nước sở tại cho phép đào tạo và cấp bằng hoặc có giấy chứng nhận kiểm định chất lượng còn hiệu lực được cấp bởi tổ chức kiểm định chất lượng hợp pháp được

Xuân Hưng

Thông tin thời tiết
25°9° - 18°Trời đẹp
  • 19/12

    9° - 21°

  • 20/12

    9° - 21°

  • 21/12

    9° - 21°

  • 22/12

    13° - 21°