http://vnmedia.vn/dan-sinh/201806/huong-dan-giai-de-thi-mon-ngu-van-vao-lop-10-tp-ha-noi-605080/v3.txt
Hướng dẫn giải đề thi môn Ngữ văn vào lớp 10 TP Hà Nội

Hướng dẫn giải đề thi môn Ngữ văn vào lớp 10 TP Hà Nội

12:10' 07/06/2018 (GMT+7)
|

(VnMedia) - So với đề thi năm 2017 và các năm trước, đề thi môn Ngữ văn vẫn giữ nguyên cấu trúc nội dung cũng như cách phân bố điểm cho từng phần. Mỗi phần đều có sự tích hợp giữa kiến thức của tác phẩm Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.

Đề thi môn ngữ văn
Đề thi môn ngữ văn

Phần I: Đề hỏi về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận. Tác phẩm ngợi ca vẻ đẹp giàu của biển đảo, quê hương và tinh thần lao động hăng say của những ngư dân bám biển. Đề thi năm nay mặc dù không có yêu cầu chép thuộc văn bản nhưng vẫn có câu hỏi (câu 1) yêu cầu học sinh phải tái hiện kiến thức. Câu 2 hỏi về trường từ vựng, biện pháp tu từ đều là những kiến thức rất quen thuộc với các thí sinh. Câu 3 yêu cầu các em phải nhớ kiến thức của chương trình Ngữ văn 8 với bài thơ Rằm tháng giêng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu 4 là câu có điểm số lớn nhất của cả bài thi thuộc phần nghị luận văn học. Các em cần viết đoạn văn theo mô hình diễn dịch để phân tích hình ảnh người lao động trong khổ thứ 6 của bài thơ. Để đạt điểm tối đa của câu hỏi này, các em không chỉ phải phân tích kĩ càng nội dung đoạn thơ mà cần thực hiện đúng các yêu cầu phụ về hình thức đoạn văn và các yêu cầu Tiếng việt đi kèm.

Phần II: Đề hỏi về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Câu hỏi giải thích từ “tiên nhân” có thể sẽ gây khó khăn cho thí sinh nếu không đọc kĩ văn bản. Câu nghị luận xã hội của đề yêu cầu bàn về vai trò của gia đình. Đây là chủ đề rất quen thuộc với các thí sinh nên nhiều bạn sẽ làm tốt câu hỏi này.

Với nội dung và cấu trúc như vậy, học sinh không cần phải học thuộc lòng và ghi nhớ quá nhiều mà chỉ cần hiểu được nội dung của tác phẩm, có kĩ năng đọc hiểu văn bản và khả năng diễn đạt tốt thì có thể hoàn thành bài thi.

Gợi ý giải đề (Tổ Ngữ Văn – Hệ thống giáo dục HOCMAI)

Phần I:

Câu 1:

Tác phẩm “Đoàn thuyền đánh cá” do Huy Cận sáng tác vào năm 1958 khi đi thực tế tại vùng biển Quảng Ninh.

Câu 2:

- Các từ thuộc trường từ vựng chỉ thiên nhiên trong hai câu thơ: gió, trăng, mây, biển.

- Biện pháp tu từ nói quá cùng những hình ảnh giàu sức liên tưởng khiến cho con thuyền trở nên kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, gió trời là người lái, trăng trời là cánh buồm. Qua đó, tác giả tô đậm tầm vóc, vị trí trung tâm của người lao động mới. Ngư dân không chỉ làm việc với lòng dũng cảm, hăng say mà còn với tâm hồn lãng mạn, hòa mình vào thiên nhiên mang tâm thế của con người lao động mới làm chủ đất nước.

Câu 3:

Câu thơ cần tìm nằm trong bài  thơ “Rằm tháng giêng” (Nguyên tiêu) của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Dịch thơ: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”.

Nguyên văn chữ Hán: “Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”.

Câu 4:

1. Hình thức:

- Đoạn văn đảm bảo dung lượng: 12 câu

- Hình thức lập luận: diễn dịch (câu chủ đề nằm ở đầu đoạn văn).

- Đoạn văn không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, chính tả,...

- Thực hiện đủ yêu cầu Tiếng Việt trong bài viết: phép lặp và câu có thành phần phụ chú.

2. Nội dung:

- Khái quát: Đoạn thơ là một khúc ca ca ngợi hình ảnh con người lao động với kết quả rực rỡ, ca ngợi vẻ đẹp tươi sáng của bình minh trên biển Hạ Long.

- Chi tiết:

+ “Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”: con người chạy đua với thời gian, chạy đua với thiên nhiên để làm việc và cống hiến. Hình ảnh đó làm nổi lên bức tượng đài sừng sững của người lao động giữa vùng biển Hạ Long.

+ “Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng”: Tiếng “ta” vang lên đầy kiêu hãnh, từ “xoăn tay”  thể hiện tư thế chắc khỏe, cường tráng của người lao động; tư thế ấy đã khẳng định được vị thế của mình trước biển khơi; “chùm cá nặng” là thành quả lao động xứng đáng dành cho họ.

+ “Vảy bạc đuôi vàng lóe rạng đông” đó là màu sắc của thân cá khiến cho không gian như bừng sáng; gợi sự liên tưởng tới sự giàu có của biển.

+ “Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” là câu thơ chứa hình ảnh đối lập: “lưới xếp” là kết thúc ngày lao động, “buồm lên” là đón chào ngày mới.

+ “Nắng hồng”: là ánh nắng bình minh của ngày mới, một ngày trong trẻo, tươi sáng; còn là hình ảnh ẩn dụ cho cuộc đời mới, tương lai mới cho đất nước, cho con người.

Phần II:

Câu 1:

- Hoàn cảnh cuộc trò chuyện: Phan Lang được Linh Phi cứu giúp xuống dưới thủy cung gặp Vũ Nương.

- “tiên nhân” được nhắc tới trong lời của Phan Lang để chỉ tổ tiên, cha ông và Trương Sinh.

Câu 2:

- Sau khi nghe Phan Lang nói, Vũ Nương lại “ứa nước mắt khóc” vì xót xa cho tình cảnh bi thảm.

- Vũ Nương quả quyết “tôi tất phải tìm về có ngày” thể hiện phẩm chất cao đẹp của nàng và mong muốn gặp lại chồng con và được giải oan.

Câu 3:

Học sinh có thể làm theo nhiều hình thức khác nhau, dưới đây là gợi ý:

1. Về hình thức

Đoạn văn có dung lượng 2/3 trang giấy, đảm bảo đúng cấu trúc ngữ pháp, ngôn ngữ diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, không mắc lỗi chính tả. Khuyến khích đoạn văn có những sáng tạo riêng.

2. Về nội dung

- Xác định được vấn đề nghị luận : Vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

- Giải thích vấn đề : Gia đình là gì ?

Gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái

- Bàn luận vấn đề: Vai trò của gia đình trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

+ Đối với cá nhân con người: Gia đình là điểm tựa, là bến đỗ bình yên của mỗi con người. Đặc biệt gia đình là cái nôi bồi dưỡng, hình thành nhân cách đạo đức con người.

+ Đối với cộng đồng xã hội : Gia đình là tế bào của xã hội, là nền tảng tạo nên xã hội.

- Liên hệ và mở rộng:

+ Yêu quý và trân trọng mái ấm gia đình.

+ Phê phán thái độ sống không coi trọng gia đình, sống ích kỉ cá nhân….

Hoàng Hải

Thông tin thời tiết
25°9° - 18°Trời đẹp
  • 19/12

    9° - 21°

  • 20/12

    9° - 21°

  • 21/12

    9° - 21°

  • 22/12

    13° - 21°