Thông qua Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của Công dân Việt Nam

15:21, 22/11/2019
|

 - Chiều nay (22/11), với 442/447 số Đại biểu có mặt tán thành (chiếm 91,54% tổng số Đại biểu Quốc hội), Quốc hội đã thông qua Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.

Giải trình tiếp thu ý kiến của các ĐBQH trước khi thông qua Luật, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho biết, có ý kiến đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể việc “sử dụng hộ chiếu của mình để thực hiện giao dịch hoặc thủ tục khác theo quy định của pháp luật” tại điểm e khoản 1; bổ sung vào điểm g khoản 1 quyền “khởi kiện” theo quy định của pháp luật, nhất là khi tạm hoãn xuất cảnh trái quy định của pháp luật.

Về các ý kiến nói trên, UBTVQH cho rằng, việc sử dụng hộ chiếu để thực hiện giao dịch hoặc thủ tục khác phải tuân thủ quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, không liên quan đến hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh của công dân nên Luật này không quy định cụ thể hoặc ủy quyền quy định cụ thể. Còn đối với ý kiến đề nghị bổ sung quyền“khởi kiện” vào điểm g khoản 1, UBTVQH đã cho tiếp thu vào dự thảo Luật.

Về các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh (Điều 36), có ý kiến đề nghị làm rõ sự khác nhau giữa quy định tạm hoãn xuất cảnh trong Luật này với quy định cấm xuất cảnh trong Bộ luật Dân sự và quy định không được xuất cảnh trong Luật Thi hành án Hình sự;

Có ý kiến đề nghị bỏ các trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành án, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo trong thời gian thử thách tại khoản 2, vì cho rằng Luật Thi hành án Hình sự quy định ba trường hợp không được xuất cảnh, nên không thể quy định là đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh trong Luật này.

 Ý kiến khác đề nghị quy định các trường hợp trên trong dự thảo Luật này để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Về các ý kiến trên, UBTVQH cho biết, hiện nay, trong hệ thống pháp luật đang sử dụng thiếu thống nhất các cụm từ “cấm xuất cảnh” (Bộ luật Tố tụng Dân sự), “không được xuất cảnh” (Luật Thi hành án hình sự) và “tạm hoãn xuất cảnh” (Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Quản lý thuế).

Về bản chất, các trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh”, “cấm xuất cảnh”, “không được xuất cảnh” trong các đạo luật chuyên ngành đều là việc dừng, không cho xuất cảnh có thời hạn.

“Luật này là luật chuyên ngành về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, nên việc quy định đầy đủ các trường hợp dừng, không cho xuất cảnh có thời hạn đối với công dân Việt Nam trong Luật này là cần thiết. Nếu không quy định trong Luật này 03 đối tượng không được xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự có thể dẫn đến cách hiểu là do Luật này ban hành sau có giá trị áp dụng so với Luật Thi hành án hình sự năm 2019 nên trong lĩnh vực thi hành án hình sự sẽ không còn 03 đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh nêu trên.” – UBTVQH giải thích.

 Do đó, UBTVQH đề nghị giữ lại 03 trường hợp không được xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự; đồng thời, cho bổ sung vào giải thích tại khoản 7 Điều 2 đối với từ ngữ “Tạm hoãn xuất cảnh” để bao quát cả các trường hợp “tạm hoãn xuất cảnh”, “cấm xuất cảnh”, “không được xuất cảnh” đã được quy định trong các đạo luật chuyên ngành khác và bảo đảm thống nhất giữa giải thích từ ngữ này với Điều 36 của dự thảo Luật.

Theo UBTVQH, có ý kiến đề nghị quy định rõ tiêu chí tạm hoãn xuất cảnh; làm rõ quy định “khi có đủ căn cứ” tại khoản 1 và khoản 4 là khi có quyết định hành chính hay quyết định tư pháp cho rõ và người dân có thể khởi kiện không có căn cứ; cho rằng quy định “người phải thi hành án dân sự” tại khoản 4 là quá rộng; bổ sung “các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước” sau cụm từ “chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế” tại khoản 5; quy định rõ “Người đang bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 6; bỏ cụm từ “đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 7; bỏ nội dung “trừ trường hợp được phía nước ngoài cho phép nhập cảnh và chữa bệnh” tại khoản 8.

Về các ý kiến trên, theo UBTVQH, Dự thảo Luật đã quy định cụ thể, rõ ràng các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh khác nhau nên không cần thiết phải quy định tiêu chí tạm hoãn xuất cảnh trong Luật này.

Theo đó, việc sử dụng cụm từ “có căn cứ xác định” được kế thừa quy định tại Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự, là khi cơ quan có thẩm quyền có tài liệu, chứng cứ chứng minh các tình tiết quy định tại khoản 1, khoản 4 để tạm hoãn xuất cảnh đối với người vi phạm.

Trường hợp “người phải thi hành án dân sự” tại khoản 4 và quy định “chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế” tại khoản 5 là bảo đảm sự thống nhất với quy định tạm hoãn xuất cảnh trong Luật Quản lý thuế và pháp luật thi hành án dân sự.

 “Người đang bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 6 đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Cũng theo giải trình của UBTVQH, người đang bị thanh tra, kiểm tra, xác minh tại khoản 7 không thuộc các giai đoạn của tố tụng hình sự, nên phải căn cứ vào mức độ vi phạm đặc biệt nghiêm trọng để tạm hoãn xuất cảnh, nếu không sẽ ảnh hưởng đến quyền của nhiều công dân.

 Đối với người đang bị dịch bệnh nguy hiểm lây lan, truyền nhiễm thì một số nước cho phép họ nhập cảnh để chữa bệnh, nên việc quy định “trừ trường hợp được phía nước ngoài cho phép nhập cảnh và chữa bệnh” tại khoản 8 là phù hợp.

Về thẩm quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh, gia hạn, hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh (Điều 37), một số ý kiến đề nghị viện dẫn các luật khác phải bảo đảm chính xác; bỏ khoản 2 vì viện dẫn không chính xác. Có ý kiến đề nghị bỏ khoản 12 hoặc quy định cụ thể hơn này theo hướng giao người ra quyết định tạm hoãn có quyền cho phép xuất cảnh đối với người bị tạm hoãn xuất cảnh, vì nếu Thủ tướng Chính phủ cho phép xuất cảnh sẽ không đúng với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 36.

Tiếp thu ý kiến trên, UBTVQH đã cho rà soát để bảo đảm viện dẫn được chính xác; chỉnh lý khoản 2 Điều này cho rõ ràng, chính xác theo từng trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 36; chỉnh lý khoản 12 theo hướng giao Bộ trưởng Bộ Công an thống nhất với người ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh về việc cho phép người bị tạm hoãn xuất cảnh được xuất cảnh trong trường hợp đặc biệt.

Về đối tượng cấp hộ chiếu ngoại giao (Điều 8), đối tượng cấp hộ chiếu công vụ (Điều 9, UBTVQH cho biết, có ý kiến đề nghị tại khoản 4 Điều 8 cần ghi rõ là Bộ trưởng, Thứ trưởng, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; bổ sung vào khoản 8 Điều 8 đối với Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy Thành phố trực thuộc Trung ương.

Theo UBTVQH, tại khoản 4 Điều 8 quy định chung “người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan do Chính phủ thành lập” là phù hợp, bảo đảm tính bao quát và đầy đủ.

Đối với Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy thành phố trực thuộc Trung ương (trung bình mỗi địa phương có khoảng 14 người) nếu được cấp hộ chiếu ngoại giao sẽ dẫn đến mất công bằng với các bộ, cơ quan ngang bộ (có khoảng 06 người được cấp) và phá vỡ cơ cấu thành phần đối tượng cấp hộ chiếu ngoại giao.

“Nếu bổ sung đối tượng trên, để bảo đảm công bằng thì cần phải bổ sung đối tượng là Ủy biên Ban thường vụ, Ủy viên Ban cán sự Đảng của các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy viên các cơ quan thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cơ quan khác do Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng thành lập… sẽ làm gia tăng số lượng hộ chiếu ngoại giao, làm giảm giá trị của cuốn hộ chiếu này trên trường quốc tế và làm ảnh hưởng đến các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước” - UBTVQH giải thích.

Về cấp hộ chiếu phổ thông (Điều 15, Điều 16), cấp giấy thông hành (Điều 19), theo UBTVQH, có ý kiến cho rằng, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 15 là phải “Có giấy tờ chỉ định của bệnh viện cần ra nước ngoài để khám, chữa bệnh” là không khả thi, vì bệnh viện trong nước không được chỉ định cho bệnh viện ở nước ngoài và thuộc hai hệ thống y tế khác nhau.

Tiếp thu ý kiến trên, UBTVQH đã cho chỉnh lý điểm a khoản 4 Điều 15 như sau “Có giấy giới thiệu hoặc đề nghị của bệnh viện về việc ra nước ngoài để khám, chữa bệnh”.

UBTVQH cũng cho biết, có ý kiến đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 16 trường hợp không có bất kỳ giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam và được cơ quan thẩm quyền xác minh là công dân Việt Nam hoặc đề nghị giao Chính phủ quy định cụ thể trường hợp này; quy định thời hạn tại khoản 4 Điều 16 cho phù hợp với trường hợp không có cơ quan đại diện Việt Nam tại nước sở tại; mở rộng diện cấp giấy thông hành tại khoản 1 Điều 19 cho cả công dân không thuộc tỉnh, huyện, xã biên giới; chỉnh sửa từ “công nhân” tại khoản 2 Điều 19 thành từ “công dân".

Về các ý kiến trên, UBTVQH giải trình: Trong trường hợp thiếu giấy tờ làm căn cứ cấp hộ chiếu đã quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 16 về việc kéo dài thời gian để xác định căn cứ cấp hộ chiếu.

Trường hợp bị nước ngoài trục xuất hoặc phải về nước theo điều ước quốc tế giữa Việt Nam với nước sở tại về việc nhận trở lại công dân mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam đã được quy định tại Điều 17, Điều 18 về cấp hộ chiếu phổ thông theo thủ tục rút gọn.

 Về thời hạn cấp hộ chiếu phổ thông ở nước ngoài không quá 05 ngày tại khoản 4 Điều 16 là kế thừa quy định hiện hành (Nghị định số 136/2007/NĐ-CP) đã được thực hiện ổn định trong thời gian vừa qua.

 

Xuân Hưng

Ý kiến bạn đọc