Bộ Luật Lao động mới: Những điều cần biết về Hợp đồng lao động

10:24, 02/12/2019
|

 - Hợp đồng lao động là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với cả người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động. Hãy cùng VnMedia tìm hiểu những quy định về hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua.

Hợp đồng lao động

Bộ Luật Lao động (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua có nhiều điểm đáng chú ý liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ cũng như chủ sử dụng lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ được thực hiện một cách đầy đủ thì điều quan trọng đầu tiên là việc thực hiện ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ).

Nhiều NLĐ thường nghĩ rằng, mọi điều khoản trong HĐLĐ đều là do hai bên tự nguyện, thỏa thuận, nhưng điều đó không đúng. Dù là tự nguyện và thỏa thuận, nhưng các điều khoản trong HĐ vẫn nằm trong “khung” mà pháp luật quy định. Đây chính là “vòng bảo vệ” mà pháp luật đặt ra để bảo vệ các quyền lợi của NLĐ.

Dưới đây là những điểm chính mà NLĐ nên biết trước khi đặt bút ký HĐLĐ:

Khi giao kết, thực hiện HĐLĐ, chủ SDLĐ không được giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của NLĐ; không được yêu cầu NLĐ phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện HĐLĐ; Buộc NLĐ thực hiện HĐLĐ để trả nợ cho người sử dụng lao động.

HĐLĐ phải được giao kết theo một trong 2 loại: HĐLĐ không xác định thời hạn (là HĐ mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng)

HĐLĐ xác định thời hạn (HĐ mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của HĐ trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Khi HĐLĐ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết HĐLĐ mới; trong thời gian chưa ký kết HĐLĐ mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo HĐ đã giao kết;

Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐLĐ hết hạn mà hai bên không ký kết HĐLĐ mới thì HĐ đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn;

Trường hợp hai bên ký kết HĐLĐ mới là HĐ xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn, trừ HĐLĐ đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu sau

Tên, địa chỉ của người SDLĐ và họ tên, chức danh của người giao kết HĐLĐ bên phía người sử dụng lao động;

Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người giao kết HĐLĐ bên phía NLĐ;

Công việc và địa điểm làm việc; Thời hạn của HĐLĐ;

Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác; Chế độ nâng bậc, nâng lương;

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ;  Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.

Khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người SDLĐ có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm.

Đối với NLĐ làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của HĐLĐ và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện HĐ chịu ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, thời tiết.

Chính phủ quy định nội dung của HĐLĐ đối với NLĐ được thuê làm Giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Người SDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết HĐ thử việc.

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc.

Thử việc phải đảm bảo không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp (DN) theo Luật DN, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN;

Thử việc không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Tiền lương của NLĐ trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Khi kết thúc thời gian thử việc, người SDLĐ phải thông báo kết quả thử việc cho NLĐ. Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người SDLĐ tiếp tục thực hiện HĐLĐ đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong HĐLĐ hoặc phải giao kết HĐLĐ đối với trường hợp giao kết HĐ thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt HĐLĐ đã giao kết hoặc hợp đồng.

Xuân Hưng

Ý kiến bạn đọc