Môi trường kinh doanh Việt Nam được đánh giá cao

08:39' 07/01/2018 (GMT+7)
|
(VnMedia) - Trong năm 2017, ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập gồm Moondy’s, Standards and Poor’s và Fitch đã tiến hành đánh giá mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam năm 2016. Trong đó, 2 trong 3 tổ chức đã công bố nâng xếp hạng về triển vọng của Việt Nam từ mức ổn định lên mức tích cực.
 
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có Báo cáo về tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết 19).
 
Môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ
 
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong bốn năm triển khai Nghị quyết 19, năm 2017 môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam được các tổ chức quốc tế ghi nhận cải thiện nhiều nhất, ba bộ chỉ số đặt mục tiêu đều tăng điểm và tăng hạng.
 
Bằng chứng, năng lực cạnh tranh tăng 5 bậc so với năm 2016 từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137 nền kinh tế và Môi trường kinh doanh đạt thứ hạng 68/190, tăng 14 bậc so với năm 2016. Đây là mức tăng bậc nhiều nhất trong thập niên qua.
 
Nếu tính hai năm liêp tiếp thì môi trường kinh doanh của nước ta tăng 23 bậc. Đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127. Đây cũng là thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đã đạt được từ trước cho đến nay.
 
Ngoài ra, trong năm 2017, ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập gồm Moondy’s, Standards and Poor’s và Fitch đã tiến hành đánh giá mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia Việt Nam năm 2016. 
 
Đến nay, 2 trong 3 tổ chức gồm Moondy’s và Fitch đã công bố nâng xếp hạng về triển vọng của Việt Nam từ mức ổn định lên mức tích cực.
 
Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù thứ hạng môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của Việt Nam cải thiện tích cực, nhưng vẫn thiếu tính bền vững bởi còn có chỉ số trong nhiều năm chưa có cải cách nào hoặc có cải cách nhưng chậm và cách xa so với các nước trong khu vực. 
 
Môi trường kinh doanh Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao. Ảnh minh họa
Môi trường kinh doanh Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao. Ảnh minh họa
Ví dụ như, hiệu quả thị trường hàng hóa; Chất lượng cơ sở hạ tầng; Giáo dục; Trình độ phát triển kinh doanh; Một số chỉ số về Môi trường kinh doanh vẫn nằm cuối bảng xếp hạng (như Khởi sự kinh doanh - thứ 123; Giải quyết phá sản doanh nghiệp - thứ 129); Đăng ký sở hữu và sử dụng tài sản, nhiều năm nay không có cải cách và sự cải thiện nào.
 
Cũng theo Báo cáo của Bộ Tài chính, các Bộ, ngành, địa phương đã có sự quan tâm, chú trọng và vào cuộc nhiều hơn trong việc thực hiện Nghị quyết 19. Tuy nhiên, mức độ thực hiện các giải pháp và kết quả đạt được còn ít và chậm hơn so với yêu cầu của Nghị quyết cũng như mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp.
 
Các Bộ vẫn còn lúng túng trong phân biệt điều kiện kinh doanh
 
Về cải cách quy định về điều kiện kinh doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 83/NQ-CP ngày 31/8/2017 chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 8/2017 và Nghị quyết 98/NQ-CP ngày 03/10/2017 ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 
 
Theo Nghị quyết, các Bộ được giao “rà soát, đánh giá, đề xuất bãi bỏ ít nhất 1/3 đến 1/2 số điều kiện kinh doanh hiện hành…”.  Tuy nhiên, Báo cáo của Bộ Kế hoạch Đầu tư chỉ rõ, đến nay mới chỉ có 5 Bộ, ngành thực hiện rà soát và đưa ra phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh. 
 
"Các Bộ khác hiện vẫn còn lúng túng trong phân biệt điều kiện kinh doanh đối với ngành nghề và quản lý chuyên ngành đối với sản phẩm, hàng hóa. Trong số điều kiện kinh doanh đề xuất bãi bỏ, sửa đổi thì khoảng 1/2 số điều kiện thuộc diện sửa đổi", báo cáo của Bộ Tài chính cho hay.
 
Về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, cho đến nay, các Bộ, ngành đã nắm rõ yêu cầu về cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành. Một số Bộ đã có hành động cụ thể thực hiện nhiệm vụ này, nhờ vậy tạo một số chuyển biến trong kiểm tra chuyên ngành, được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận. Thời gian thực hiện một số thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được rút ngắn hơn trước.
 
Tuy vậy, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nhận định, nhìn chung mức độ cải thiện trong công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành còn chậm; Những trở ngại, vướng mắc trước đây gây khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí cho doanh nghiệp chưa được khắc phục.
 
Cụ thể như: Danh mục mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành quá rộng và có xu hướng ngày càng tăng, thậm chí có mặt hàng/nhóm mặt hàng mở rộng hơn so với phạm vi cho phép của luật; Vẫn còn sản phẩm, hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa có khả năng gây mất an toàn chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; Quản lý chuyên ngành chồng chéo giữa các Bộ vẫn chưa được cải thiện, ngoại trừ những thay đổi tích cực trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm;
 
Chi phí kiểm tra chuyên ngành quá lớn, gây ảnh hưởng nặng nề tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đi ngược với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về “cắt giảm chi phí doanh nghiệp”; Thời gian thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành còn dài; Danh mục hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành của một số Bộ chưa có mã HS.
 
Minh Ngọc