Sau 1 thập kỷ khủng hoảng, bất ổn kinh tế vẫn luôn đe dọa các nền kinh tế

15:46, 16/11/2018
|
 -  Chỉ sau hơn 10 năm kể từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997, Việt Nam lại hứng chịu tác động bất lợi từ một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới khác. Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng cơ quan quản lý và hoạch định chính sách cần luôn cập nhật và nắm chắc các luồng thông tin, từ đó có khả năng nhận diện sớm các vấn đề của khủng hoảng.
 
Khó khăn kinh tế vẫn đang tồn tại
 
Thông tin tại Hội nghị “Củng cố an ninh tài chính châu Á và giải pháp thực hiện” cho biết, cùng với đà hội nhập, Việt Nam phải hứng chịu nhiều tác động nhanh và mạnh hơn từ những bất lợi trên thị trường thế giới, trong đó có cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 – 2009, khủng hoảng nợ công châu Âu.
 
Giai đoạn 2008 – 2011 cũng chứng kiến những khó khăn không nhỏ khi nội tại nền kinh tế Việt Nam gặp bất ổn kinh tế vĩ mô.
 
Theo ông Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trong bối cảnh hội nhập ngày một sâu rộng và công nghệ tài chính – ngân hàng ngày một phát triển hơn, những diễn biến kinh tế - tài chính trên thị trường thế giới và khu vực có thể ảnh hưởng nhanh và mạnh hơn đến các nền kinh tế thành viên.
 
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
 
Cũng theo ông Cung, sau hơn 10 năm kể từ khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997, Việt Nam lại hứng chịu tác động bất lợi từ một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới khác. Thời điểm mà Việt Nam gặp thêm một cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lại diễn ra vào năm 2008 – ngay sau khi Việt Nam còn khá hứng khởi với việc trở thành thành viên thứ 150 của WTO.
 
Dù vậy, điều này không làm giảm tầm quan trọng của hội nhập kinh tế quốc tế. Thay vào đó, Việt Nam phải có một tâm thế sẵn sàng hơn và hợp tác sâu rộng hơn để có thể ứng phó với những diễn biến kinh tế - tài chính trên thị trường thế giới.
 
Theo ông Sebastian Eckardt – Trưởng nhóm kinh tế học Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (WB), sự leo thang của chế độ thuế qua bảo hộ toàn cầu sẽ ảnh hưởng tới triển vọng tăng trưởng. Và sự tương tác của những rủi ro này có thể làm trầm trọng các lỗ hổng trong ngắn hạn và ảnh hưởng tới việc tăng trưởng.
 
Cần duy trì và củng cố dư địa chính sách kinh tế vĩ mô
 
Theo ông Nguyễn Đình Cung, kinh nghiệm xử lý khủng hoảng tài chính trong thời gian qua đã mang lại cho Việt Nam những bài học quý báu. Từ những diễn biến về cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 – 2009 tại Việt Nam có thể rút ra 4 bài học kinh nghiệm.
 
Thứ nhất, việc nhận diện đúng tình hình và ra quyết định nhanh chóng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước có độ mở ngày càng lớn, những biến động của kinh tế, chính trị thế giới có tác động truyền dẫn gần như ngay lập tức tới thị trường trong nước thông qua các kênh của thị trường tài chính như chứng khoán, tỷ giá hối đoái giao dịch trên thị trường. Cơ quan quản lý phải luôn cập nhật tình hình, đưa ra những phân tích để từ đó có những phản ánh chính sách kịp thời và hợp lý.
 
Theo đó, cần chuẩn bị một hệ thống thông tin đồng bộ, đầy đủ và các công cụ dự báo phù hợp. Kết nối, chia sẻ thông tin với các đối tác trong và ngoài nước chính là một giải pháp quan trọng theo hướng ấy.
 
Thứ 2, cần duy trì và củng cố dư địa chính sách kinh tế vĩ mô để có thêm lựa chọn và thực hiện thành công các giải pháp trong điều kiện kinh tế -tài chính bất lợi. Các gói kích thích tài khóa khó khả thi hoặc không đạt quy mô cần thiết nếu ngân sách gặp khó khăn. Bên cạnh đó, cần đảm bảo sự tương tác giữa chính sách tài khóa, tiên tệ và các chính sách khác.
 
Thứ 3, các biện pháp có tính chất hành chính có thể vẫn cần thiết trong điều kiện khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, cần tránh lạm dụng/tránh áp dụng trong thời gian dài. Nếu tình hình kinh tế - tài chính đã phục hồi mà vẫn duy trì biện pháp có tính chất hành chính thì hệ lụy sẽ là thị trường bị xơ cứng, hiệu quả phân bổ nguồn lực (đặc biệt là nguồn lực tài chính) có thể suy giảm.
 
Thứ 4, hợp tác quốc tế về tài chính có ý nghĩa quan trọng. Việt Nam đã và đang trong quá trình phát triển, rất cần gia tăng hợp tác toàn diện trong lĩnh vực tài chính và hoàn thiện thể chế tài chính. Bên cạnh đó, nhà nước cần duy trì hợp tác trong lĩnh vực quản lý thị trường chứng khoán, bảo hiểm, tăng cường kết nối về hỗ trợ xây dựng các chính sách, quản lý thị trường, đào tạo nhân lực, hợp tác và chia sẻ thông tin, đồng thời duy trì cơ chế tham vấn về những vấn đề kinh tế và tài chính quốc tế khu vực và trên thế giới.
 
“Kinh nghiệm xử lý khủng hoảng tài chính trong thời gian qua đã mang cho Việt Nam những bài học quý báu. Trước hết, ‘phòng bệnh hơn chữa bệnh’. Cần chuẩn bị ngay cho khủng hoảng từ khi nền kinh tế đang vận hành bình thường. Các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách cần luôn cập nhật và nắm chắc các luồng thông tin, hình thành các cơ sở dữ liệu phân tích tình huống, từ đó có khả năng nhận diện sớm các vấn đề của khủng hoảng, cân nhắc và đưa ra các quyết định kịp thời. Bên cạnh đó, cần duy trì và củng cố dư địa hợp lý để thực thi các chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô một khi nền kinh tế đối phó với khủng hoảng”, ông Cung nhấn mạnh.
 
Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cũng cho rằng, trong điều kiện khủng hoảng tài chính, các biện pháp hành chính có thể phát huy tác dụng nhưng cũng cần thực hiện với liều lượng và thời gian hợp lý. Quan trọng không kém nữa là xây dựng và củng cố vị thế của Việt Nam trong hợp tác quốc tế về tài chính nhằm chia sẻ thông tin và hỗ trợ lẫn nhau trước, trong và sau khủng hoảng”.
 
Yến Nhi

Ý kiến bạn đọc